EIS-DK10 không phải một máy đơn lẻ mà là một bộ kit: máy biên cài sẵn phần mềm, mô-đun vào ra không dây, cảm biến mẫu và các phụ kiện mô phỏng thiết bị trường. Bộ này sinh ra để trả lời một câu hỏi cụ thể trước khi đầu tư lớn, đó là dữ liệu trong xưởng có lấy về được không và lấy về thì dùng vào việc gì. Bài viết nêu thành phần bộ kit, cấu hình công bố, cách chạy thử và mốc để quyết định mở rộng.

Bộ EIS-DK10 gồm những gì
| Thành phần | Vai trò trong bài chạy thử |
|---|---|
| Máy biên cài sẵn hệ điều hành và bộ công cụ | Đọc thiết bị, dựng luồng xử lý và hiển thị trang tổng quan |
| Mô-đun vào ra không dây | Lấy tín hiệu ở vị trí không kéo được dây, ví dụ tủ nằm giữa xưởng |
| Cảm biến nhiệt độ và độ ẩm | Nguồn dữ liệu thật để chạy thử toàn mạch trước khi đấu vào máy sản xuất |
| Mô-đun Modbus TCP | Mô phỏng thiết bị nói giao thức Modbus trong xưởng |
| Đèn báo và quạt kèm bộ phụ kiện | Tạo tín hiệu đóng cắt và tải để thử phần lệnh xuất ra |
| Gói dịch vụ đám mây cấu hình sẵn | Thử đường đẩy dữ liệu lên lớp trên mà không phải dựng hạ tầng riêng |
Giá trị của cách đóng gói này nằm ở chỗ đội kỹ thuật dựng được một mạch dữ liệu hoàn chỉnh ngay trên bàn, từ cảm biến tới trang hiển thị, trước khi đụng vào thiết bị sản xuất. Nhờ vậy phần lỗi cấu hình được xử lý xong ở phòng kỹ thuật, còn thời gian tại xưởng chỉ dành cho việc đấu nối thật.
Cấu hình phần cứng công bố
| Hạng mục | Số liệu công bố |
|---|---|
| Vi xử lý | Intel Celeron J1900 bốn nhân 2,0 GHz dạng SoC |
| Bộ nhớ | 4 GB đi kèm máy |
| Lưu trữ | Ổ SSD SATA III 64 GB |
| Cổng hình ảnh | 2 cổng HDMI |
| Cổng mạng | 2 cổng Gigabit, kèm mô-đun mạng không dây Atheros AR9462 |
| Cổng USB | Cổng USB 2.0 và 1 cổng USB 3.0 |
| Cổng nối tiếp | 2 cổng RS-232 và 2 cổng RS-422/485 |
| Nguồn cấp | 12 V một chiều |
| Kích thước | 133,8 x 43,1 x 94,2 mm |
| Nhiệt độ làm việc | Âm 20 đến 60 độ C khi dùng bộ nhớ và ổ SSD cấp công nghiệp |
| Hệ điều hành | Bản Windows nhúng cài sẵn |
Cấu hình này đủ cho một chuyền hoặc một cụm thiết bị. Nếu bài toán ngay từ đầu đã là vài trăm điểm đo với chu kỳ giây thì nên bỏ qua bước kit và xét thẳng bản cấu hình mạnh hơn, chi tiết ở bài máy chủ biên EIS-D150.
Bốn bước chạy thử trong một tuần
Bước một, dựng mạch dữ liệu trên bàn. Nối cảm biến mẫu và mô-đun trong bộ kit, khai báo điểm đo, dựng luồng xử lý và làm một trang hiển thị đơn giản. Mục tiêu của bước này là đội kỹ thuật nắm được công cụ, chưa cần đúng với thực tế xưởng.
Bước hai, đấu vào thiết bị thật ở một vị trí. Chọn một máy có sẵn cổng truyền thông và một tín hiệu đóng cắt đơn giản như đèn báo trạng thái. Ghi lại thời gian bỏ ra cho từng thiết bị, con số này là căn cứ để ước lượng công cho toàn nhà máy.
Bước ba, để máy chạy liên tục ít nhất ba ngày. Không chỉnh cấu hình trong thời gian này. Cuối kỳ, đếm số bản ghi thực tế thu được so với số bản ghi lý thuyết theo chu kỳ đọc, tỷ lệ thiếu cho biết chất lượng đường truyền và độ ổn định cấu hình.
Bước bốn, thử tình huống hỏng. Rút cáp mạng, cắt nguồn máy, cắt nguồn một mô-đun. Ghi lại thời gian hệ tự phục hồi và lượng dữ liệu mất trong mỗi tình huống. Đây là phần cho kết quả hữu ích nhất nhưng cũng hay bị bỏ qua nhất.
Sáu tiêu chí quyết định trước khi mở rộng
- Công đấu nối trên mỗi thiết bị. Nhân số giờ đo được ở bước hai với số thiết bị của nhà máy, ra khối lượng công thực tế chứ không phải ước lượng.
- Lượng dữ liệu mỗi ngày. Con số này quyết định dung lượng ổ tại biên và băng thông đường truyền lên trung tâm.
- Tỷ lệ bản ghi thiếu. Dưới một phần trăm là chấp nhận được cho báo cáo sản xuất, cao hơn thì phải xử lý đường truyền trước khi mở rộng.
- Thời gian phục hồi sau sự cố. Nếu hệ cần người can thiệp mới chạy lại thì mô hình đó không nhân lên nhiều điểm được.
- Số thiết bị không có cổng truyền thông. Nhóm này cần thêm mô-đun vào ra hoặc cảm biến gắn ngoài, chi phí thường bị bỏ sót khi lập dự toán.
- Người dùng số liệu. Nếu sau ba ngày chạy thử chưa có ai trong xưởng mở trang số liệu ra xem thì vấn đề nằm ở chỗ chọn chỉ số, không nằm ở thiết bị.
Cách phân tầng dữ liệu giữa hiện trường, biên và trung tâm khi mở rộng được nêu ở bài máy tính nhúng ứng dụng IoT, còn phần công cụ giao kèm theo dòng EIS được mô tả kỹ ở bài máy chủ biên EIS-D110.
Khi nào chuyển từ kit sang máy chạy thật
| Model | Vi xử lý | Cổng chính | Cách gá | Hợp với tình huống |
|---|---|---|---|---|
| EIS-DK10 | Intel Celeron J1900 bốn nhân 2,0 GHz | 2 GbE, 2 RS-232, 2 RS-422/485, 2 HDMI, mạng không dây | Đặt bàn, thân 43 mm | Chạy thử và trình diễn nội bộ |
| ARK-1123C | Intel Atom E3825 hai nhân 1,33 GHz dạng SoC | 2 GbE, 2 RS-232/422/485 chọn trong BIOS, VGA | Có bộ ngàm VESA, thanh DIN hoặc treo tường | Vị trí biên nhỏ, cần gá vào tủ điện |
| ARK-2121F | Intel Celeron J1900 bốn nhân 2,0 GHz có chế độ tăng tốc | 6 cổng COM, 6 USB, vào ra số có cách ly, VGA và HDMI | Gá tủ, nguồn vào 9 đến 36 V | Nhiều thiết bị nối tiếp, âm 20 đến 70 độ C khi dùng SSD và linh kiện nhiệt rộng |
| UNO-2174G | Intel Celeron 847 hoặc 807UE, hoặc Core i7-2655LE | 4 cổng Gigabit, 2 RS-232 và 2 RS-232/422/485, 6 USB 2.0 | Gá tủ, cấp bảo vệ IP40 | Cần tách vùng mạng và mở rộng bằng card PCI-104 |
Điểm cần giữ khi chuyển máy là phần cấu hình đã dựng trong lúc chạy thử. Danh sách điểm đo, luồng xử lý và trang hiển thị nên chuyển nguyên sang máy mới, tránh dựng lại từ đầu rồi phát sinh khác biệt giữa bản thử và bản chạy thật.
Mua EIS-DK10 ở đâu
Bộ kit này chưa có trang bán riêng trên site. Máy hộp cùng tầm nằm ở danh mục máy tính không quạt cho IoT, mô-đun vào ra không dây có trang riêng tại WISE-4012E.
Đề nghị báo giá nên nêu ba nội dung: phạm vi chạy thử tính theo số thiết bị và số điểm đo, danh sách giao thức cần đọc, và có cần gói dịch vụ đám mây kèm theo hay không. Phần đối chiếu với các dòng máy công nghiệp khác của hãng có tại chuyên mục máy tính nhúng Advantech trên IPC247. Khi đã có kết quả chạy thử và cần chọn máy cho bản chạy thật, dùng công cụ chọn máy theo yêu cầu lắp đặt.
Câu hỏi thường gặp về EIS-DK10
Bộ EIS-DK10 gồm những thành phần nào?
Bộ gồm một máy biên nền Intel Celeron J1900 cài sẵn hệ điều hành và bộ công cụ thu thập, một mô-đun vào ra không dây, cảm biến nhiệt độ và độ ẩm, mô-đun Modbus TCP, đèn báo, quạt cùng vài phụ kiện mô phỏng thiết bị trường. Cách đóng gói này cho phép dựng một mạch dữ liệu hoàn chỉnh mà chưa cần đấu vào máy sản xuất.
Cấu hình phần cứng của EIS-DK10 là gì?
Máy dùng vi xử lý Intel Celeron J1900 bốn nhân 2,0 GHz với 4 GB bộ nhớ đi kèm và ổ SSD SATA III 64 GB. Cổng gồm 2 HDMI, 2 cổng Gigabit, cổng USB 2.0 và USB 3.0, 2 cổng RS-232 và 2 cổng RS-422/485. Thân máy 133,8 x 43,1 x 94,2 mm, nguồn vào 12 V một chiều, có mô-đun mạng không dây.
Chạy thử bằng bộ kit mất bao lâu?
Với một chuyền và khoảng vài chục điểm đo, phần dựng thường gọn trong một tuần làm việc: một ngày dựng mạch dữ liệu trên bàn, hai ngày đấu vào thiết bị thật, phần còn lại để máy chạy liên tục và ghi nhận. Thời gian dài hay ngắn phụ thuộc chủ yếu vào việc lấy được tài liệu giao thức của thiết bị trong xưởng.
Dùng luôn máy trong bộ kit cho hệ chạy thật được không?
Được với quy mô nhỏ và vị trí trong nhà, nhưng nên xét lại ba điểm trước khi quyết định: dải nhiệt độ tại vị trí lắp thật, số cổng nối tiếp cần dùng và cách gá máy trong tủ. Nếu ba điểm này vượt khả năng của máy trong bộ kit thì chuyển sang máy hộp công nghiệp cùng tầm và giữ nguyên phần cấu hình phần mềm đã dựng.
Máy có giữ được dữ liệu khi mất điện đột ngột không?
Bộ công cụ đi kèm có phần sao lưu và phục hồi hệ thống, giúp đưa máy về trạng thái đã lưu sau sự cố. Riêng phần dữ liệu đang đọc dở thì phụ thuộc chu kỳ ghi xuống ổ, nên trong lúc chạy thử cần chủ động cắt nguồn vài lần để đo xem mất bao nhiêu bản ghi và có cần thêm bộ lưu điện hay không.
Đọc thêm về thiết bị: toàn bộ máy tính công nghiệp Advantech cùng các hãng khác trên ipc247.com.




