EIS-D120 là máy chủ biên nền Intel Celeron J1900 của Advantech, khác các model cùng cấp ở dải nguồn 9 đến 36 V và dải nhiệt âm 20 đến 70 độ C. Điểm đáng đọc kỹ ở model này không phải cấu hình tính toán mà là nhóm cơ chế giữ cho máy chạy liên tục: sao lưu và phục hồi hệ thống, cập nhật phần mềm qua mạng, đệm dữ liệu khi mất kết nối và cơ chế danh sách trắng ứng dụng. Bài viết đi theo hướng vận hành, tức là những việc phát sinh sau khi máy đã lắp xong.

Thông số EIS-D120 theo tài liệu hãng
Mã này không nằm trong danh sách hàng dựng sẵn trên site, nên bảng dưới lấy theo số liệu đã công bố cho sản phẩm.
| Hạng mục | Thông số công bố |
|---|---|
| Vi xử lý | Intel Celeron J1900 bốn nhân 2,0 GHz |
| Bộ nhớ | 4 GB đi kèm máy |
| Lưu trữ | Ổ SSD SATA III khổ 2,5 inch dung lượng 64 GB |
| Hệ điều hành | Bản nhúng của Windows 7 hoặc Windows 10 cho thiết bị công nghiệp |
| Cổng hình | 1 cổng HDMI và 1 cổng VGA |
| Cổng mạng | 2 cổng Gigabit |
| Cổng USB | 3 cổng USB 2.0 và 1 cổng USB 3.0 |
| Cổng nối tiếp | 2 cổng RS-232 và 2 cổng RS-422 hoặc RS-485 |
| Âm thanh | Ngõ vào micro, ngõ vào và ngõ ra tín hiệu |
| Nguồn cấp | 9 đến 36 V một chiều |
| Nhiệt độ làm việc | Âm 20 đến 70 độ C với bộ nhớ và ổ SSD cấp công nghiệp |
| Kích thước | 264,5 x 68,4 x 133,0 mm |
| Mở rộng | Hỗ trợ mô-đun iDoor theo tài liệu hãng |
| Sao lưu hệ thống | Sao lưu nóng, phục hồi và khôi phục bằng phím tắt qua công cụ Acronis |
| Bảo vệ phần mềm | Cơ chế danh sách trắng ứng dụng của McAfee |
| Cập nhật từ xa | Qua mạng, cho phần mềm của hãng và phần mềm bên thứ ba |
| Đệm dữ liệu | Giữ số liệu tại biên khi mất kết nối và gửi bù khi mạng trở lại |
| Công cụ dựng luồng | Node-RED cài sẵn cùng trình tạo trang tổng quan |
Ba dòng cuối bảng là phần ít được nhắc tới nhất nhưng lại quyết định chi phí vận hành sau này. Phần dưới đi vào từng cơ chế.
Bốn tình huống làm gián đoạn một trạm biên đang chạy
Trạm biên hỏng theo những kiểu rất khác máy văn phòng. Bảng dưới liệt kê bốn tình huống hay gặp trong xưởng và cơ chế trên máy tương ứng.
| Tình huống | Hậu quả nếu không có cơ chế xử lý | Cơ chế có trên máy |
|---|---|---|
| Đường truyền lên hệ thống quản lý gián đoạn vài giờ | Mất toàn bộ số liệu trong khoảng thời gian đó, báo cáo ca bị thủng | Đệm số liệu tại biên rồi gửi bù khi mạng trở lại |
| Nguồn tủ chập chờn, máy khởi động lại giữa lúc đang ghi | Hỏng tệp cấu hình, phải cài lại máy và khai báo lại thiết bị | Sao lưu nóng và phục hồi hệ thống bằng phím tắt |
| Có người cắm ổ nhớ lạ hoặc cài thêm phần mềm vào máy | Máy chạy phần mềm ngoài kiểm soát, tải tăng bất thường | Danh sách trắng ứng dụng, chỉ phần mềm đã khai báo mới chạy |
| Cần vá lỗi cho hai mươi máy đặt ở năm xưởng | Kỹ thuật viên phải đi từng nơi, mỗi máy một phiên bản khác nhau | Cập nhật phần mềm qua mạng theo đợt |
Ba tình huống đầu xảy ra vài lần mỗi năm ở phần lớn nhà máy. Tình huống thứ tư thì chắc chắn xảy ra, chỉ là sớm hay muộn.
Sao lưu và phục hồi: đặt lịch thế nào cho hợp lý
Công cụ sao lưu trên máy làm được ba việc: chụp toàn bộ trạng thái hệ thống trong lúc máy vẫn chạy, phục hồi về một bản chụp đã chọn, và khôi phục nhanh bằng phím tắt khi máy không vào được hệ điều hành. Ba việc này chỉ có giá trị nếu quy trình vận hành nói rõ khi nào chụp và cất bản chụp ở đâu.
Lịch nên đặt theo nhịp thay đổi cấu hình chứ không theo lịch cố định. Một bản chụp ngay sau khi nghiệm thu, khi danh sách thiết bị và luồng dữ liệu đã ổn định. Một bản chụp trước mỗi lần thêm thiết bị hoặc sửa luồng. Một bản chụp định kỳ hằng tháng để bắt các thay đổi nhỏ. Ba bản chụp gần nhất nên để trên ổ mạng chứ không để trong chính máy, vì hỏng ổ là một trong những nguyên nhân phải phục hồi.
Phần khôi phục bằng phím tắt nên thử ít nhất một lần trong giai đoạn nghiệm thu, cùng với kỹ thuật viên sẽ trực máy sau này. Thử một lần trong điều kiện bình thường nhanh hơn nhiều so với đọc tài liệu lúc dây chuyền đang dừng.

Cập nhật phần mềm cho một đội máy biên nhiều xưởng
Khi số máy vượt quá năm, việc cập nhật thủ công không còn khả thi. Cách làm nên theo bốn bước. Bước một, chọn một máy làm mẫu, tốt hơn cả là máy ở xưởng có điều kiện khắc nghiệt nhất. Bước hai, cập nhật máy mẫu và theo dõi ít nhất ba ngày, so số liệu trước và sau để chắc chắn luồng dữ liệu không đổi. Bước ba, đẩy bản cập nhật cho khoảng một phần ba số máy còn lại. Bước bốn, đẩy cho phần còn lại nếu hai đợt trước không phát sinh sự cố.
Trước mỗi đợt phải có bản chụp hệ thống của các máy trong đợt đó. Không có bản chụp thì một bản cập nhật lỗi kéo theo việc cài lại từ đầu, và phần khai báo thiết bị mới là phần tốn thời gian nhất.
EIS-D120 đặt ở đâu trong tủ điện
Thân máy 264,5 x 68,4 x 133,0 mm nằm ngang trên tấm gá là hợp lý nhất, chừa khoảng hở phía trên để đối lưu. Dải nguồn 9 đến 36 V cho phép cắm thẳng vào nguồn 24 V của tủ, bớt được bộ chuyển nguồn và bớt luôn một điểm hỏng. Dải nhiệt âm 20 đến 70 độ C là số liệu công bố cho vỏ máy khi lắp linh kiện cấp công nghiệp, không thay thế phép đo nhiệt độ thật bên trong tủ vào buổi trưa.
Bốn cổng nối tiếp là con số vừa đủ cho một tủ đọc thiết bị đo bằng giao thức Modbus. Khi số thiết bị vượt quá khả năng của bốn đường, cách xử lý gọn hơn là đặt thêm một máy ở tủ kế bên chứ không kéo dài thêm đường RS-485. Cách xếp cấp giữa các model cùng dòng nằm ở bài dòng máy chủ biên EIS Advantech, còn cấu hình cấp thấp hơn nằm ở bài máy chủ biên EIS-D110.
Chọn thiết bị cho trạm biên phải chạy liên tục
Ba tiêu chí nên đặt lên trước khi so cấu hình tính toán. Thứ nhất là dải nguồn: máy nhận dải rộng cắm thẳng vào nguồn tủ. Thứ hai là khả năng phục hồi: máy phải có công cụ chụp và khôi phục hệ thống, hoặc dự án phải tự dựng cơ chế tương đương. Thứ ba là cập nhật từ xa, bắt buộc khi số máy nhiều hơn năm.
Nếu yêu cầu đi xa hơn tới mức phải dự phòng nguồn và dự phòng ổ đĩa, nên xét máy hộp có hai đầu vào nguồn và hai ổ lưu trữ như UNO-3083G. Nếu cần thêm lớp bảo vệ bằng phần cứng và nhiều cổng mạng, UNO-2484G có bốn cổng Gigabit cùng vi điều khiển bảo mật TPM 2.0. Một bài khác mô tả cùng model theo hướng công cụ cho nhà phát triển nằm ở EIS-D120 và bộ công cụ phát triển.
Nhóm máy hộp dùng cho hệ thống kết nối nằm ở danh mục máy tính không quạt cho IoT, phần đối chiếu rộng hơn nằm ở chuyên mục máy tính công nghiệp Advantech trên IPC247. Khi chưa chốt được cấu hình cho trạm chạy liên tục, có thể chạy công cụ chọn máy theo yêu cầu lắp đặt rồi gửi kết quả kèm số điểm đo và điều kiện tủ điện.
Câu hỏi thường gặp về EIS-D120
EIS-D120 nhận nguồn bao nhiêu vôn?
Máy nhận dải rộng từ 9 đến 36 V một chiều. Nhờ vậy cắm thẳng vào nguồn 24 V có sẵn trong tủ điện mà không cần thêm bộ chuyển nguồn, giảm được một điểm hỏng trên chuỗi cấp nguồn.
Máy chịu được nhiệt độ tủ điện tới mức nào?
Theo tài liệu hãng, dải nhiệt làm việc là âm 20 đến 70 độ C khi máy lắp bộ nhớ và ổ SSD cấp công nghiệp. Đây là số liệu cho vỏ máy, vẫn phải đo nhiệt độ thực bên trong tủ vào giờ nóng nhất trước khi chốt vị trí đặt.
Mất điện đột ngột có làm hỏng dữ liệu trên máy không?
Bộ phần mềm đi kèm có cơ chế giữ dữ liệu tại biên khi đường truyền gián đoạn và gửi bù khi kết nối trở lại, cùng công cụ sao lưu và phục hồi hệ thống. Với nhà máy hay mất điện, nên cấp nguồn máy qua bộ lưu điện của tủ để tránh cắt nguồn giữa lúc đang ghi.
Cập nhật phần mềm cho nhiều máy biên ở nhiều xưởng làm thế nào?
Máy hỗ trợ cập nhật qua mạng cho cả phần mềm của hãng lẫn phần mềm bên thứ ba. Cách làm nên theo đợt: cập nhật một máy làm mẫu, chạy theo dõi vài ngày, rồi mới đẩy cho phần còn lại của đội máy.
EIS-D120 có bao nhiêu cổng nối tiếp?
Theo tài liệu hãng, máy có 2 cổng RS-232 và 2 cổng RS-422 hoặc RS-485, kèm 2 cổng mạng Gigabit, 3 cổng USB 2.0 và 1 cổng USB 3.0. Bốn cổng nối tiếp đủ cho phần lớn tủ điện đọc thiết bị đo bằng giao thức Modbus.
Đọc thêm về thiết bị: toàn bộ máy tính công nghiệp Advantech cùng các hãng khác trên ipc247.com.




